menu

Wednesday, May 4, 2016

BÌNH GIẢNG HƯƠNG SƠN PHONG CẢNH


Đề bài: Bình giảng bài thơ Hương Sơn phong cảnh ca của Chu Mạnh Trinh.

Chu Mạnh Trinh (1862-1905) đậu tiến sĩ, nổi danh tài hoa phong nhã văn chương lỗi lạc, âm nhạc, hội họa, kiến trúc đều tinh thông. Chu Mạnh Trinh là người vẽ kiểu, trùng tu chùa Thiên Trù ở Hương Sơn. Thi sĩ Xuân Diệu đã xếp Chu Mạnh Trinh vào hàng ngũ những tao nhân – tài tử – tài tình trong nền văn học Việt Nam thời cận đại.
Hương Sơn thuộc huyện Mĩ Đức, tỉnh Hà Tây, một vùng sơn thuỷ hữu tình có động Hương Tích với nhiều chùa chiền tuyệt đẹp, được coi là “Nam thiên đệ nhất động”. Hội chùa Hương là một lễ hội lớn nhất ở miền Bắc nước ta, kéo dài từ tháng giêng đến tháng ba âm lịch hàng năm, có ngày đông tới hàng vạn người. Thám hoa Vũ Phạm Hàm đã từng viết:

Người tai mắt kẻ nhân gian,
Ai chẳng đến Hương Sơn thì cũng tục.
(Hương Sơn phong cảnh)

Thơ viết về Hương Sơn khá nhiều. Trong hàng trăm bài thơ của các thi sĩ thời cận đại và hiện đại, bài thơ Hương Sơn phong cảnh ca của Chu Mạnh Trinh được xem là áng thơ kiệt tác. Bài thơ được viết theo thể hát nói (dôi hai khổ giữa) gồm 19 câu thơ. Tính nhạc du dương, cảnh đẹp thiên nhiên đượm mùi Thiền, được miêu tả và cảm nhận qua tâm hồn nghệ sĩ tài hoa là nét đặc sác của bài thơ này.
Khổ thơ đầu giới thiệu khái quát phong cảnh Hương Sơn được tả từ xa trong tầm mắt của du khách. Giọng thơ trang trọng, từ điệu khoan thai thể hiện du khách vừa đi vừa đứng lại ngắm cảnh và suy ngẫm:

Bầu trời cảnh Bụt,
Thú Hương Sơn ao ước bây lâu nay.
Kìa non non, nước nước, mây mây,
Đệ nhất động hỏi đây có phải?

Một thiên nhiên mênh mông chan hòa với màu sắc Phật giáo. Hương Sơn là thiên tạo nhưng cũng là cảnh Bụt đã và đang vẫy gọi người đời. Đi lễ hội chùa Hương là thú vui, là niềm ước ao bấy lâu nay của nhiều người.
Vốn từ xưa, trong dân gian lưu truyền câu: “Dục đáo Hương Sơn bất khả ước”, nghĩa là muốn đến Hương Sơn không thể nói trước. Người đời tin rằng nếu nói trước sẽ gặp điều trở ngại không đi được. Câu thơ thứ hai của Chu Mạnh Trinh mang một ý mới mẻ: cảnh đẹp Hương Sơn và lễ hội chùa Hương là thú vui mà nhiều người từng ao ước bấy lâu nay. Kìa là đại từ để trỏ một vật từ xa; ở trong văn cảnh biểu lộ sự ngạc nhiên trước cảnh tri thiên nhiên hùng vĩ. Ba chữ non non, nước nước, mây mây được điệp lại hai lần chỉ số nhiều, gợi tả cảnh núi non, sông nước, mây trời tầng tầng lớp lớp, nhấp nhô trùng điệp như mở ra và dẫn dụ khách vào một thế giới thiên nhiên kì vĩ hấp dẫn. Khách trầm trồ, tự hỏi để rồi khẳng định: Hương Sơn là Nam thiên đệ nhất động. Cảm xúc mà vần thơ tạo nên vừa hư vừa thực, lâng lâng mộng ảo. Du khách như mở rộng tâm hồn chiếm lĩnh bầu trời cảnh Bụt kì quan tạo hóa xây đắp đã bao đời nay, đã tô điểm giang sơn gấm vóc.

Hương sơn là một vùng sơn thuỷ hữu tình có động Hương Tích với nhiều chùa chiền tuyệt đẹp, được coi là “Nam thiên đệ nhất động”.
Khổ thơ tiếp theo trong bài hát nói gọi là khổ giữa, nhà thơ nói về suối, rừng và tiếng chuông chùa. Ba chi tiết nghệ thuật này đều tô đậm nét đặc trưng của Hương Sơn. Rừng là rừng Mai với trái mơ đặc sản của chùa Hương. Tiếng chim hót thỏ thẻ – chậm rãi, nỉ non – gọi bầy tìm bạn, kết đôi. Bầy chim trời vừa hót vừa mổ trái mơ. Hình ảnh chim cúng trái là nét vẽ độc đáo, tài hoa. Bầy chim mổ trái mơ như khách hành hương đứng dưới mái chùa cổ trong hang động đang khom lưng khấn vái trước mâm ngũ quả dâng trên bàn thờ Phật. Suối ở đây là suối Yến. Chơi chùa Hương ai cũng phải đi đò dọc bến Đục suối Yến? Đàn cá nơi suối Yến lững lờ bơi từ từ thong thả – như đang cùng du khách thưởng ngoạn cảnh trí. Cá nghe kinh cũng là một hình ảnh sáng tạo, đầy chất thơ. Đây là hai câu thơ hay nhất trong bài hát nói:

Thỏ thẻ rừng Mai, chim cúng trái
Lững lơ khe Yến, cá nghe kinh.

Cảnh lâm tuyền hữu tình đăng đối hài hòa, có chim có cá, có khe Yến rừng Mai, tạo vật được nhân hòa đượm mùi Thiền; Chim cúng trái, cá nghe kinh. Có âm thanh thỏ thẻ, có đường nét lửng lơ. Nét vẽ vừa thanh vừa nhẹ thể hiện bút pháp điêu luyện của nghệ sĩ tài ba. Cũng tả cảnh rừng mơ Hưomg Tích, một thi sĩ khác cảm nhận:

Trong bụi rậm đàn chim thỏ thẻ
Dưới rừng xanh mấy chị tìm mơ
Lá vàng man mác ngẩn ngơ…
(Hương Sơn phong cảnh — Vũ Phạm Hàm)

Lội suối trèo non… thăm thú chùa xưa, hang động nơi cảnh Bụt, bỗng một tiếng chuông chùa xa đưa tới thoảng bên tai êm ái mơ hồ. Khách hành hương như trút đi bao nỗi ưu phiền trong cuộc đời tang hải – bể dâu – đầy biến động, nhọc nhằn. Tiếng chuông như ru hồn khách tang hải, giật mình trong khoảnh khắc chìm sâu hơn vào giấc mộng diệu huyền:

Thoảng bên tai một tiếng chày kình
Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.

Câu thơ cho ta nhiều thú vị về nhạc diệu du dương. Hai thanh bằng có K âm vang ngân nga, ngọt ngào vần với nhau: kình – mình tạo nên nhạc điệu, âm hưởng trầm bổng của vần thơ. Chỉ một tiếng chày kình êm ái trầm bổng nơi chùa Hương cũng đủ rửa sạch bụi trần làm thanh thản, thảnh thơi tâm hồn khách tang hải. Chu Mạnh Trinh không chỉ tạo nên những vần thơ có nhạc có họa khi tả chim, tả cá, tả tiếng chuông chùa mà còn thế hiện sự kì diệu của hồn cảnh vật Hương Sơn Nam thiên đệ nhất động.
Hai khổ thơ 3 và 4 tiếp theo là hai khổ dôi của bài hát nói. Hương Sơn có biết bao cảnh đẹp nên thi sĩ phải sử dụng khổ dôi để diễn tả cảm xúc và miêu tả cảnh vật. Du khách như đi dần vào thế giới Hương Sơn, nơi bầu trời cảnh Bụt. Chu Mạnh Trinh dùng biện pháp tu từ liệt kê và điệp từ để tả, để vẽ, để tạo nên nhạc điệu trầm bổng của vần thơ. Hai cập song hành với bức tranh tứ bình nối tiếp hiện ra. Bốn chữ này vang lên như bốn nốt nhấn của khúc ca:

Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng
Này am Phật Tích, này động Tuyết Quynh.

Sự phối thanh bằng, trắc ở hai tiếng chẵn (2, 4, 6, 8) trong hai câu thơ này cũng cho thấy bút pháp già dặn, tài hoa của tác giả đế làm nối bật tính nhạc của bài hát nói. Hương Sơn có rất nhiều di tích thắng cảnh nhung Chu Mạnh Trinh chỉ giới thiệu bốn cảnh điển hình, chỉ gợi ra mà không tả. Suối Giải Oan, chùa Cửa Võng, am Phật Tích, động Tuyết Quynh mỗi di tích mỗi thắng cảnh đều đem đến cho ta nhiều liên tưởng và hướng thiện lòng người hành hương. Ai cũng cảm thấy mình đang cùng nhà thơ chan hòa vào cảnh Bụt, được sống lại giây phút mà chỉ có bầu trời, cảnh Bụt nơi Hương Sơn mới ban phát cho mình. Cảm hứng tín ngưỡng về đạo Phật được thể hiện qua những vần thơ nói về suối, chùa, am, động như mời gọi du khách, lắng nghe tiếng chuông chùa xa đưa lại mà ngạc nhiên, mà ngỡ ngàng…
Chu Mạnh Trinh có những vần thơ đầy màu sắc tả hang động. Cảnh sắc ấy được tạo dựng nên bởi hóa công và tài trí của con người:

Nhác trông lên ai khéo vẽ hình
Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt.

Những liên tưởng so sánh về nhũ đá trong các hang động biểu lộ niềm tự hào của nhà thơ về đất nước và con người Việt Nam: yêu đời, yêu tạo vật, biết đem bàn tay khéo léo tô điểm cảnh trí non sông.
Hương Sơn có đường lên trời có hang xuống âm ti địa ngục dẫn khách hành hương du nhập vào thế giới siêu thoát. Cảnh được tả từ xa tới gần, từ khái quát đến cụ thể, từ cao xuống thấp, từ thấp lên cao, huyền ảo. Các từ láy: thăm thẳm, gập ghềnh gợi tả độ sâu, nét lượn cheo leo, khúc khuỷu của sườn non, hang động mà du khách lần bước vượt qua để hòa nhập với thiên nhiên, để chiếm lĩnh cái hồn của cảnh bụt. Phép đảo ngữ đã làm nổi bật cái độ sâu thăm thẳm của hang động, cái nét gập ghềnh của những sườn non, những thang mây cao vút:

Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt.
Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây.

Có hang sâu thăm thẳm, lại có lối uốn gập ghềnh, có bóng nguyệt lồng hang, lại có thang mây uốn lối… Câu thơ mềm mại uyển chuyển, mỗi một chi tiết nghệ thuật là một nét vẽ, nét khắc tài hoa. Cảnh đẹp mang tình người và hồn người, đáng yêu và đáng nhớ. Hương Sơn là mảnh hồn thiêng liêng sông núi, là gấm hoa giang sơn. Mọi di tích cảnh đẹp chùa chiền hang động, suối Yến, rừng Mai, am Phật Tích… tuy hùng vĩ, đượm mùi Thiền nhưng không xa lạ cõi trần. Khách hành hương không hề cảm thấy rợn ngợp nhỏ bé, trái lại luôn luôn tìm thấy niềm vui hòa nhập chiêm ngưỡng. Con người đã tìm thấy niềm vui trong thiên nhiên. Tình yêu thiên nhiên cũng là tình yêu quê hương đất nước:

Chừng giang sơn còn đợi ai đây,
Hay tạo vật khéo ra tay xếp đặt.

Ở trên tác giả đã viết: ai khéo vẽ hình, ở dưới lại nói: hay tạo hóa khéo ra tay xếp đặt. Có biết Chu Mạnh Trinh là người từng đem tiền của, công sức, tài năng ra trùng tu chùa Thiên Trù, tạc tượng đúc chuông… mới cảm nhận được một chữ ai đáng tự hào kín đáo đã hai lần xuất hiện trong bài thơ này.
Ba câu cuối gọi là khổ xếp của bài hát nói. Câu cuối chỉ có sáu từ gọi là câu keo. Luật thơ đã qui định chặt chẽ như vậy. Không gian nghệ thuật được miêu tả theo bước chân xa dần của đoàn người hành hương. Họ vừa đi vừa ngắm cảnh, miệng tụng kinh, tay lần tràng hạt. Không khí thành kính trang nghiêm. Lòng hướng thiện của du khách đều hướng về cửa từ bi của đạo Phật, ai cũng cảm thấy tự hào đối với giang sơn đất nước:

Lần tràng hạt niệm nam mô Phật
Cửa từ bi công đức biết là bao!
Càng trông phong cảnh càng yêu.

Câu keo láy lại hai lần chữ càng – càng trông… càng yêu – nói lên thật hay cái thú vị đi hội chùa Hương của nhân dân ta. Chẳng có cách nào nói hay hơn, hồn nhiên hơn và đậm đà hơn cách nói của Chu Mạnh Trinh vậy.
Lễ hội nói chung, hội chùa Hương nói riêng thể hiện bản sắc vãn hóa dân gian Việt Nam vô cùng phong phú. Cảnh Hương Sơn vốn đã được chúa Trịnh Sâm ngợi ca là Nam thiên đệ nhất động. Đó là một niềm thiên nhiên kì thú hữu tình. Bài thơ của Chu Mạnh Trinh giúp chúng ta chiếm lĩnh vẻ đẹp hồn thiêng núi sông. Thơ nên họa nên nhạc cho thấy chất tài hoa nghệ sĩ của Chu Mạnh Trinh. Bài thơ đã làm đẹp làm phong phú thể ca trù – hát nói của dân tộc. Có đi lễ hội chùa Hương mới thấy hết cái hay của bài thơ Hương Sơn phong cảnh ca. Có được nếm vị chua giòn mơ Hương Tích, có được ăn rau sắng chùa Hương ta mới yêu hơn nhiều lần Hương Sơn, mới thêm tự hào vẻ đẹp thiên nhiên đất nước. Tổ quốc ta không chỉ có Hương Sơn mà còn có trăm sông nghìn núi tráng lệ, bao thắng cảnh kì quan. Hãy làm cho đất nước mãi mãi thanh bình, nhân dân đuợc sống yên vui trong những mùa xuân tưng bừng lễ hội…
Thu Huyền

Trần Nhất Lang
Tue Dec 09, 2014 5:37 pm

Wednesday, March 16, 2016

HỒNG PHẤN

(Đáp lễ Thần Điêu)

Môi hồng má phấn
Một thời nao vương vấn khách thi nhân
Em buồn anh sao cứ lặn lội chốn hồng trần
Để phấn son nhạt mầu xuân ái ngại .

Anh vẫn ước giong thuyền Phạm Lãi
Em còn mơ giặt lụa Sông Vân ?
Nhưng đường đời con Tạo cứ xoay vần
Ngày tháng lụn mãi bâng khuâng nỗi nhớ .

Chẳng tại chúng ta cuộc tình lỡ dở
Mà vì cơn hồng thủy xô vỡ giang san .
Vần thơ sưởi chút hương tàn
Em theo di tản ta mang kiếp Hời
Tháp Chàm lơ lửng trăng soi !

Trần Nhất Lang
Tue Dec 16, 2014 1:47 am

PHÓNG BÚT VU VƠ

Cuồn cuộn trường giang dòng Bến cũ
Em mơ làm cánh hạc mỗi hoàng hôn
Hót bài ca đợi hoa nở bên Sông
Bao chuyện cũ theo gió Đông chờ Tết đến .

Em vắng mặt ai người trực tuyến
Thuyền xa bờ mấy khách làm thơ
Thả rong mình ngồi đọc những vu vơ (*)
Thương cánh hạc muốn giấc mơ thành hiện thực .

Ta vẫn biết nỗi lòng em bứt rứt
Én một mình chưa đủ sức tạo mùa xuân
Nhớ xưa gương cũ hợp quần
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
Mong ngày nâng chén rượu đào .

(*) Mượn thơ Ngàn Thông .


Trần Nhất Lang
Tue Jan 20, 2015 11:48 pm

Tuesday, March 15, 2016

MÙA CẢM CÚM

Mùa Đông cảm cúm
Không chừa ai dù lụm khụm hay chưa già
Người lơ ngơ ăn ngủ không yên, lại thêm cái bệnh ho gà
Đặc biệt sớm lây lan ở Tiểu Bang xa tuyết trắng .

Cảm mấy hôm Ngàn Thông choáng váng
Sốt dăm ngày Thiếu Phụ nằm khan
Biết bao thi nhân sổ mũi nóng miên man
Huynh uống thuốc chận sợ thương hàn nhập lý .

Huỳnh Vũ Hoàng Tuấn xưa nay là chàng lực sĩ
Chắc cảm xoàng nên chỉ bị sơ sơ
Chúc người hết bệnh làm thơ
Gieo tình sông Bến đang chờ niềm vui
Cùng nhau đón Tết năm Mùi .


Trần Nhất Lang
Thu Jan 22, 2015 8:35 pm

NGÁN CƠM ĂN PHỞ


(Thơ vui)

Cơm nhà lâu cũng ngán
Bèn rủ ông bạn già tản bộ kiếm gì ăn
Khu thương mại đầy dẫy những nhà hàng
Nào bún chả, bánh cuốn, chợt dáng sang sang cô bán phở .

Bạn nói ta ăn gà chạy bộ
Tôi bàn mình chén phở bò non
Gọi hai tô tái lớn phi lê mi nhon
Thêm giá chụm, đĩa rau thơm, hành tây trộn dấm .

Vắt tí chanh, xịt tương, rắc tiêu cho thấm đậm
Nuốt một thìa thấy ấm cả tim gan
Cơm nhà đâu sánh cơm hàng
Ngán cơm, ăn phở mấy nàng biết chăng ?
Không tin cứ hỏi Phở Bằng ...

Trần Nhất Lang
Thu Jan 29, 2015 5:16 pm

CƠM NHÀ VẪN HƠN

Mưỡu

Ai ơi ăn phở tốn tiền
Lại còn mang tiếng, xóm giềng gièm pha
Đâu bằng cơm nấu ở nhà
Vừa ngon vừa rẻ, mặn mà lứa đôi .

Nói

Từ nay em trổ tài nấu nướng
Chẳng nem công chả phượng cũng thơm ngon
Nồi canh chua sea bass, bí tết filet mignon
Cá chép chiên dòn, ăn xong ta du xuân lãm thúy .

Ngắm bác nông phu cầy ruộng núi
Nhìn đàn mục tử thả trâu đồi
Cá tung tăng bơi lội dọc bên ngòi
Mây trắng phủ đỉnh núi đôi sương ngậm .

Mầu cỏ biếc xanh xanh dài trải thảm
Nàng xiêm hồng cỡi ngựa xám thả cương rong
Lơ thơ rặng liễu nước chẩy xuôi dòng
Nhớ chả cá Thăng Long chừng thấy đói .

Thèm món chả giò đích tay bà xã gói
Bún thang miền Bắc còn bốc khói : "Về thôi" !
Thịt bê xâu kẹp nướng làm mồi
Mở hũ rượu chát kề môi ta đối ẩm .

Chẳng thiết ăn quán phở Bình hay cơm sườn nướng, tấm
Chiều chiều về sọan sẵn nậm rượu, ly chén đôi ta
Bên đèn em đẹp như hoa ...
Trần Nhất Lang
Sat Jan 31, 2015 8:17 pm

HỌA BÀI CHÚC BẾN NGÀY XUÂN CỦA NGÀN THÔNG

Bên sân mai đã nở
Mấy cành đào đang trổ nụ đơm bông
Dang đôi tay em đón gió xuân hồng
Cơn bĩ cực đã hanh thông, tiễn kiết .

Gói bánh chưng xanh chào đón Tết
Khui thùng rượu đỏ đợi mừng Xuân
Dịp đầu năm chúc bạn hữu trong Bến xa gần
Vạn sự cát tường, nợ nần ốm đau giũ sạch .

Dương thịnh đã về tiền bạc đầy kho nứt vách
Thời nhiễu nhương an phận "Lạc đạo vong bần" (*)
Mấy lời Cung Chúc Tân Xuân .

(*) Trích thơ cổ, nghịa là : "Vui với đạo lý mà quên sự nghèo túng" .

Trần Nhất Lang
------------------------------
Chúc Bến Ngày Xuân

Vườn sau mai chớm nở
Trước sân nhà đào trổ cánh ra bông
Ngồi bên hiên em đếm giọt nắng tươi hồng
Năm cũ vất vả rồi cũng xong tống kiết

Luộc bánh tét xanh em đợi Tết
Đốt tràng pháo đỏ khách vui xuân
Nhân năm Mùi em chúc anh chị xa gần
Mọi sự như ý và thoát vòng tật ách

Xuân mới đã về, tiền của vô kho chật vách
Đời đục trong em đạm bạc thanh bần
Mấy vần chúc Bến ngày xuân .

Ngàn Thông
Fri Feb 13, 2015 4:37 pm

Trần Nhất Lang
Sun Feb 15, 2015 10:05 pm




THƯ THĂM NGÀN THÔNG BỊ CẢM NẶNG

Ngàn Thông cảm nặng
Cám ơn em đã ráng dán thơ Xuân
Nghe tin ngưởi đau, chim hạc cũng tần ngần
Con én liệng bâng khuâng gọi nhớ .

Phước chủ lộc thầy thang thuốc bổ (*)
Ơn cha nghĩa mẹ phiến thơ khơi
Sông Mây Hát Nói người vẫn yêu đời
Mai sẽ khỏi bịnh, đem nụ cười về theo nắng mới .

Nơi Bến nước có trăng vàng vẫn đợi
Con đò thơ còn cột sợi tương tư
Trời quang xua hết mây mù
Bông hồng năm mới lá thư chúc lành
Sông Mây một dải xanh xanh .

(*) Bổ đây là động từ có nghĩa là đi hốt thuốc hay mua thuốc
nói theo tiếng địa phương, giống như đi bổ hàng là đi mua hàng .
Khơi là đọc trại của chữ khai có nghĩa như khai hội, khai trường v. v ...
Ngàn Thông dù đang bịnh vẫn dán những bài thơ viết về ơn cha nghĩa mẹ .


Trần Nhất Lang
Tue Feb 17, 2015 1:13 pm

GỐI THU THAO THỨC CANH GÀ

Mưỡu

"Heo may cong cớn giữa đường
Cánh rơi ... cảm súc dễ thường chân qua" . (*)
Không về mặc áo lam già
Làm thơ Hát Nói xót xa sự đời .

Nói

"Mầu tóc mây xưa buồn tự thuở
Hoa cười thơm gió, gió bơ vơ" (**)
Đủ đau lòng người viễn khách tháng năm chờ
Tầm rút ruột giăng tơ đan kén vội .

Thấp thoáng rừng phong trăng đỏ ối
Mơ màng phố núi lá vàng hoe

Vút theo mây cánh nhạn gọi nhau về
Buồm lướt gió canh khuya chao biển rộng .
Đêm lặng lẽ mà nghe lòng dậy sóng
Thương cho đời bao biến động phong ba
Gối thu thao thức canh gà !

(*) (**) Thơ Ngàn Thông .


Trần Nhất Lang
Mon Oct 14, 2013 3:37 pm

BIẾT AI MÀ TỎ NGUỒN CƠN

(Gửi một người)

Buổi tiễn đưa thuyền tách bến
Để hôm nay trăng ườc hẹn cũng mờ phai
Ngược dòng thời gian đo lại khoảng chiều dài
Thiên lý mã đường trần ai rong ruổi .

Biển cả nương dâu chờ đọan cuối
Trời xanh vân cẩu đợi hồi sau

Giấc mơ nào tỉnh mộng đã xa nhau
Sợi nắng hè nhuộm tím niềm đau cõi nhớ .

Chân bước mỏi, quê hương trái sầu chín đỏ
Người xa rồi, biết ai mà tỏ nguồn cơn
'"Kiều cư kí ngụ"(*) thêm buồn ...


(*) Sống nhờ, gửi nơi đất khách quê người .
Trần Nhất Lang
Sat Jul 12, 2014 5:00 pm