menu

Monday, November 2, 2015

NGẬM NGÙI

Bài Xướng 

Hương Xuân 


Người đi bỏ lại mảnh vườn thơ
Cho kẻ tình si luống thẫn thờ
Hạ trắng phượng hồng khơi nỗi nhớ
Thu vàng lá đỏ gợi niềm mơ
Ngậm ngùi đêm vắng tim mong đợi
Hiu hắt đèn khuya dạ ngóng chờ
Nức nở dòng châu in gối chiếc
Trăng thề rọi bóng, bóng bơ vơ . 





Bài Họa 


Trần Nhất Lang 


Để lại sau lưng chốn gác thơ
Hoa xuân nhớ bạn, gió ơ thờ
Cuộc tình năm trước vầng trăng vỡ
Sự nghiệp bây giờ chiếc gối mơ
Thung lũng hoa vàng ai ngóng đợi ?
Quận Cam biển lạnh khách trông chờ
Bắc thang muốn hỏi chương Thiên Vấn
Chỉ thấy mây ngàn lượn vẩn vơ .

CHIỀU NHỚ

Bài Xướng 

Khánh Ngọc 


Hoàng hôn nhẹ phủ phía chân trời
Tím ngắt một mầu sông nước trôi
Hiu hắt thuyền sương theo bóng nhạn
Thướt tha trăng gió quyện lưng đồi
Tóc vương khói sóng đời cô lữ
Hồn dõi bờ mây phận lẻ đôi
Chiều nhớ đan sầu lên mắt biếc
Hỏi người có thấu mảnh tình tôi .






CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ 


Bài Họa 

Trần Nhất Lang 


Nắng loang vạt cỏ tắt bên trời
In sóng mây hồng nước cuốn trôi
Khuấy mảnh trăng vàng thương cánh hạc
Nhịp tay chèo quế nhớ hoa đồi
Thu buồn bến cũ thân đơn chiếc
Xuân thắm đò xưa buổi sánh đôi
Duyên mới em đi đành lỗi hẹn
Chén say quên lãng một mình tôi .

ÁO TÍM HOA SIM

(Để tưởng niệm Miếu Hai Cô trên Đại lộ Kinh hoàng mùa hè 1972)


Trần Nhất Lang


Tam Thủ Liên Hoàn Độc Vận

I

Buổi ấy quen nhau chốn Giáo đường
Một tà áo tím, tím mầu thương
Anh đi khu chiến gìn thôn xóm
Em ở quê nhà giữ hậu phương
Chiều xuống dừng quân nơi giới tuyến
Trăng lên nhớ bạn nẻo Tiêu Tương (1)
Thư xanh mở khép niềm tâm sự
Khách ở trời Ngô nhớ Lạc Dương.(2)



II

Khách ở trời Ngô nhớ Lạc Dương
Tìm người năm cũ lạc sân trường
Mùa hè binh lửa thiêu thôn đạo
Áo tím hoa sim bỏ giáo đường
Súng nổ bom rơi tràn Quảng Trị
Pháo bay nhà cháy khắp quê hương
Nàng theo di tản cùng em gái
Tử nạn, ai xây Miếu Nhị Nương.(3)



III

Tử nạn, ai xây Miếu Nhị Nương
Em về an lạc chốn Thiên đường
Bao năm khói lửa quê nghèo khổ
Một thủơ ân tình áo tím thương
Bá tánh trầm luân cơn ác mộng
Thế gian giả tạm cõi vô thường
Đi qua Đại lộ Kinh hoàng cũ (4)
Xin thắp cho nàng một nén hương.



Chú thích : (1) Tiêu Tương là chỗ sông Tiêu và sông Tương hợp lại trong tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa, chảy qua Hồ Nam, Trường Sa, vào Động Đình Hồ. Vua Thuấn đi tuần thú xứ Thương Ngô và mất ở đó. Hai bà vợ là Nga Hoàng và Nữ Anh đến sông Tiêu Tương ngồi bên bờ sông mà khóc, nước mắt vấy vào những cành trúc. Về sau trúc mọc ở bờ sông này đều lấm chấm trông như đồi mồi. Chữ "Mành Tương" trong Truyện Kiều lấy từ điển này (Mành Tương lất phất gió đàn).
Người ta thường dùng hai chữ "Tiêu Tương" để chỉ việc trai gái thương nhớ nhau.

(2) Mượn ý bài thơ PHÙ DUNG LÂU TỐNG TÂN TIỆM của Vương Xinh Linh viết khi đi làm quan ở đất Ngô, tiễn Tân Tiệm đi Lạc Dương.
Trong bài ÁO TÍM HOA SIM tác giả muốn diễn tả "hai người ở hai nơi và nhớ nhau".

"Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô
Bình minh tống khách Sở sơn cô
Lạc Dương thân hữu như tương vấn
Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ."

Trần Trọng San dịch :

Mưa lạnh sông đêm vào đất Ngô
Sáng ra tiễn khách núi trơ vơ
Lạc Dương nếu có ai thăm hỏi
Một mảnh lòng băng ở ngọc hồ.

Trong bài NHỚ CỐ NHÂN của Vũ Hoàng Chương cũng có câu :
"Có kẻ vào Ngô nhớ Lạc Dương".

(3) MIẾU NHỊ NƯƠNG là MIẾU HAI CÔ, nơi người thiếu nữ Áo Tím Hoa Sim và em gái đã tử thương bên lề Đại lộ Kinh hoàng (Quốc lộ 1 mới), cách thành phố Quảng Trị gần 20 cây số về phía nam, nằm phía bắc sông Mỹ Chánh.

(4) Đại lộ Kinh hoàng được đặt tên cho đoạn đường nói trên trong trận chiến mùa hè 1972.



CẢM TÁC SAU KHI ĐỌC BÀI ÁO TÍM HOA SIM


Chuyện Ngoài Đồng Nương 


Trần Đại 


Tam thủ liên hoàn độc vận

1

Đưa tiễn cha con tận cuối đường
Mẹ về lòng nặng nỗi sầu thương
Con thì áo trận ra tiền tuyến
Cha cũng giầy sô trấn hậu phương
Nghìn dặm chia ly sầu núi Sở
Muôn trùng cách biệt lệ sông Tương
Chiều lên đỉnh núi vời trông ngóng
Chỉ thấy mây trời với đại dương



2

Chỉ thấy mây trời với đại dương
Người đi chí dũng dạ can trường
Đao binh khốc liệt ngoài quan ải
Chinh chiến tràn lan khắp nẻo đường
Thiên hạ điu nhau về xứ lạ
Mẹ hiền vẫn đợi ở quê hương
Người con phơi xác lưng chừng núi
Cha lết qua đồng gục dưới nương



3

Cha lết qua đồng gục dưới nương
Nơi đây vừa mở một con đường
Xóa đi tất cả niềm thương nhớ
Để lại một người nỗi tiếc thương
Chinh chiến qua rồi cơn dữ dội
Làng quê trở lại chuyện bình thường
Mỗi lần chân bước qua thôn ấy
Lòng chạnh niềm đau nhớ cố hương 



Sun Aug 16, 2009 



Kính hoạ nghịch vận với đại sư huynh 


Còn đọng niềm thương ** 


Huỳnh Vũ Hoàng Tuấn 


I

Xin thắp cho nàng một nén hương
hai mươi năm lẻ bỏ mộng thường
hết rồi má đỏ chiều buông nhớ
đành biệt mắt nai tối đọng thương
cõi tạm nên về nơi cát bụi
vĩnh hằng phải đến chốn thiên đường
xin em yên nghĩ nghìn thu nhé
Cửa Phật từ bi hãy náu nương 



II

Cửa Phật từ bi hãy náu nương
thấm câu kinh kệ ngát trầm hương
hóa sen tinh khiết an nhiên giới
thành ánh hào quang tự tại đường
không để bi ai đè sáu khắc
chẳng cho khổ lụy vướng canh trường
nguyện cầu theo khói mây bay mãi
dẫu bóng ngoài kia đã tịch dương



III

Dẫu bóng ngoài kia đã tịch dương
trong ta vẫn đọng mãi niềm tương
cỏ xanh đã phủ vàng chân mộ
tóc bạc điểm sương trắng tha phương
bia đá mờ ghi sâu nỗi nhớ
bức hình nhạt dấu đậm màu thương
trăm năm là mấy , phải chăng ngắn
sao chẳng cùng nhau chung một đường ? 



** Viết cho N. Mai người con gái đã ra đi 27 năm qua

Mon Aug 17, 2009


BÀI HỌA


Thy Linh


Hôm nay vào đọc mấy giòng Đường
Vị ngọt pha vào những oán thương
Khóc kẻ lệ thầm nơi chốn hậu
Cảm người gạt nhớ đến xa phương
Tình riêng chàng gửi nơi sông ngộ
Nghĩa trọn thiếp trầm lắng bến tương
Tháng tháng ngày ngày bao ngóng đợi
Giọt buồn ai đổ mấy bờ dương

Giọt buồn ai đổ mấy bờ dương
Khói lửa chưa tan cuộc chiến trường
Đất nước giòng sầu rơi khắp nẻo
Quê Hương tang trắng phủ muôn đường
Anh xuôi kiếp đọa nơi rừng thẳm
Em ở tảo tần chốn nhiễu nhương
Gói ghém thăm ai vùng gió núi
Nhìn người lệ xót đẫm hồn nương

Nhìn người lệ xót đẫm hồn nương
Chàng lại ra đi chốn lạ đường
Khăn trắng thiếp mang niềm tủi hận
Vành sô em liệm kín đời thương
Bao rồi thu đã thay màu lá
Năm tháng đâu xa giấc mộng thường
Mơ nhé một lần về chốn cũ
Cùng vòng tay ấm đắm nồng hương 



Thu Aug 20, 2009

HỌP HÈ THUNG LŨNG HOA VÀNG SAN JOSE, BẮC CALIFORNIA

(Họa bài Cali Phương Bắc của Thy Linh)


Trần Nhất Lang


Họp Hè còn nhớ buổi hôm nào
Thung Lũng Hoa Vàng gió lộng cao
Tà áo tiểu thư in bến nước
Lời ca thân hữu vọng trời sao
Em đi để lại bài thơ nhớ
Anh đến mang theo tiếng hát chào
Một trái tim mềm ai có biết (*)
Không giây mà cột mấy vòng tao. (**)



(*) Thoát ý hai câu thơ cổ :
"Bán sinh phong cốt lăng tằng thậm
Nhất phiến nhu hoài chỉ vị khanh."

Dịch thơ
Nửa đời sương gió ngang tàng
Trái tim mềm chỉ vì nàng đó thôi.

(**) Theo Tự Điển Từ Và Ngữ chữ Tao có nhiều nghĩa, ở đây xin được hiểu là : lần hay lượt hoặc là phen.

CẢM ĐỀ BÀI THƠ ÁO TIỂU THƯ CỦA DÂN CHU

Trần Nhất Lang


Buổi ấy ngày xưa đã mấy thu
Áo em phố núi quyện mây mù
Lời thương đưa lối đường hoa mộng
Ghi mãi trong tim "Áo Tiểu Thư".

BẾN SÔNG MÂY HỌP MẶT HÈ 2009 TẠI SAN JOSE

Trần Nhất Lang


Ba bài


I


Mùa hè Họp Mặt Bến Sông Mây
Khấp khởi chờ trông mấy tháng chầy
Kỳ trước Quận Cam tươi ánh nắng
Hôm nay Miền Bắc ấm vòng tay
Mừng nàng nữ sĩ gieo thơ thắm
Chúc bạn thi nhân cạn chén say
Duyên bút văn chương vui hội ngộ
Sang năm nhớ gọi, sẽ đi ngay.



II


Sang năm nhớ gọi, sẽ đi ngay
Ai viết thư xanh gửi Bến này
Đôi chén tương phùng đưa chấp rượu
Chút tình hội ngộ gửi Sông Mây
Mỹ nhân hạ bút mơ màng tỉnh
Thi hữu đề thơ chếnh choáng say
Họp Mặt lần sau xin nhớ hẹn
Dù Nam hay Bắc có huynh đây.



III


Dù Nam hay Bắc có huynh đây
Nghỉa bút tình nghiên đợi tháng ngày
Khúc hát vương tôn thơ tiếp nối
Áo dài mệnh phụ gió đưa bay
Người đi để nhớ giăng Thung Lũng
Kẻ ở ươm buồn dõi Bến Mây
Những buổi Họp Hè bao kỷ niệm
Ta về đối nguyệt mái Lầu Tây.

ĐÔI BỜ ĐẠI DƯƠNG

Trần Nhất Lang


Đại dương xa thẳm cách đôi bờ
Kẻ ở miền tây nhớ đất Ngô (*)
Trăng nước Giang Đông lầu kẻ đợi
Núi sông Ba Thục bến người chờ
Nhớ thương một thuở tình như mộng
Ly biệt bao ngày sống tựa mơ
Mòn mỏi đợi nhau chung gác nguyệt
Cung cầm vẫn hẹn nối giây tơ.



(*) Xứ Đông Ngô của Tôn Phu Nhân
vợ Lưu Bị trong truyện Tam Quốc.

XUÂN KỶ SỬU CHƠI BIỂN HAWAII

Trần Nhất Lang


Ngày xuân Kỷ Sửu núi không leo
Về biển Hawaii khuấy mái chèo
Bát ngát trời mây tìm cảnh vẽ
Mênh mông sóng nước chọn vần gieo
Tung tăng muốn tựa loài cò vạc
Trôi giạt màng chi cảnh bọt bèo
Rượu nhấp lời thơ bay bổng mãi
Chén vàng trăng rọi vẫn đi theo.

MÙA XUÂN KỶ SỬU

Bài Xướng

Trần Nhất Lang


Mười thu nghiên bút mối duyên tơ
Hoa bốn mùa xuân đẹp ý thơ
Phố Núi tri âm đan lưới nhớ
Quận Cam mặc khách dệt câu chờ
Song mây sao lặn tàn canh mộng
Lầu hạc trăng tà héo giấc mơ
Kẻ ở đầu sông em có biết
Ngàn năm kim cổ nước xuôi bờ.






BÀI HỌA


Bóng tàn xuân


Cát Vân


Tàn xuân năm ấy đứt đường tơ
Tiễn bước nhau về úa cánh thơ
Lặng lẽ đàn ngưng im tiếng đợi
Ưu tư bút nghẹn dấu lời chờ
Người trên sóng cả đau hồn nước
Kẻ ở rừng sâu tắt ước mơ
Ly biệt trùng trùng sầu vạn ngã
Sông dâng từ lệ chảy đôi bờ ...

ĐI LỄ MÙA XUÂN

Bài Xướng

Cát Vân


Mùa Xuân hội lễ tận trên đèo
Dốc đứng thoài lên phải cố leo
Bão táp vừa tan cây cối ngã
Nắng về lại rủ gió ngàn reo
Bò theo thằng nhóc tay tay đỡ
Để rớt mồ hôi giọt giọt gieo
Vẳng tiếng chuông ngân quên cả mệt
Von von một bụng cũng ham trèo







BÀI HỌA 1


Thanh Thủy Tự *


Thùy Linh


Thanh Thủy chùa xa tận chót đèo
Sườn trơn đá dựng dốc cheo leo
Loanh quanh khóm trúc hồi chuông đổ
Khúc khủy đồi mai tiếng gió reo
Vượt khỏi lầu chuông màn khói quyện
Xuyên qua cổng chánh giọt mưa gieo
Chon von cột gỗ treo hùng vĩ
Mái ngói giăng mây ráng sức trèo


*Thanh Thủy Tự (Kyzomizu) ngôi chùa cổ bằng gỗ, tài sản quốc gia của Nhật, công trình xây dựng vĩ đại từ thế kỷ 15, chùa rất cao ngang tầm núi, 4 mùa cảnh đều rất đẹp ...





BÀI HỌA 2


NGÀY XUÂN THĂM CHÙA LỄ PHẬT


Trần Nhất Lang


Sơn Tự chênh vênh tận cuối đèo
Đường lên khúc khuỷu nối đuôi leo
Sườn non vi vút đàn thông dạo
Vách đá quanh co thác nước reo.
Lắng đọng lời kinh, tâm Tuệ mở
Ngân nga câu kệ, tiếng kình gieo
Tháng Giêng cầu Phật hơn năm lễ (*)
Dù nắng hay mưa cũng phải trèo.


(*) "Đi lễ quanh năm không bằng ngày Rằm tháng Giêng."